VietACT - Vietnamese Alliance to Combat Trafficking RSS   Search
VietACT Logo LEARN JOIN ACT VietACT
Home Register | Login
Article Details
Bản Báo Cáo Về Tệ Nạn Buôn Người
Date Posted: 8/21/2006

Những Vị Anh Hùng Hành Động Để Chấm Dứt Tình Trạng Nô Lệ Hiện Đại
Linh Mục Nguyễn Văn Hùng
, Giám Đốc Văn Phòng Công Nhân Lao Động và Cô Dâu Đài Loan

Cha Hùng và nhân viên của Văn Phòng Công Nhân Lao Động và Cô Dâu Đài Loan (VMWBO) đã giúp đỡ hơn 2000 nạn nhân Việt Nam thoát khỏi cảnh khủng khiếp của sự bóc lột lao động và tình dục từ năm 2004.

Dưới sự lãnh đạo của Cha Hùng, VMWBO đã giải cứu, che chở, và phục hồi các nạn nhận bị buôn bán tình dục cũng như bị bóc lột lao động, trong đó các thợ hầu việc nhà và cô dâu Việt Nam.  Cha Hùng đã từng thúc đẩy việc tố kiện người chủ, người môi giới lao động, và những kẻ buôn người trong toà án Đài Loan, và thương lượng tiền bồi thường cho những ngày làm không trả lương và các thương tích do tai nạn lao động trong lúc làm việc.  Nhận thấy sự quan trọng trong việc liên kết nỗ lực của các tổ chức chống tệ nạn buôn người, Cha Hùng đã hợp tác với các tổ chức tư vấn pháp lý và các tổ chức phi chính phủ về quyền lợi công nhân lao động tại Đài Loan.  Cha Hùng thực sự là một vị anh hùng đối với những công nhân Việt Nam bị lạm dụng và cưỡng bức làm nô lệ ở Đài Loan.

Bảng Xếp Hạng các quốc gia trong bản báo cáo về tệ nạn buôn người

Tầng 1: Các quốc gia thuộc Tầng này hoàn toàn tuân theo tiêu chuẩn tối thiểu của Dự Luật Bảo Vệ Nạn Nhân của Tệ Nạn Buôn Người được thông qua Quốc Hội Hoa Kỳ vào năm 2000 (TVPA).

Tầng 2: Các quốc gia thuộc Tầng này không hoàn toàn tuân theo tiêu chuẩn tối thiểu của Dự Luật Bảo Vệ Nạn Nhân của Tệ Nạn Buôn Người nhưng họ đang có những nỗ lực đáng kể để tiến tới sự tuân theo các tiêu chuẩn đó.

Tầng 2 Danh Sách Đặc Biệt Theo Dõi:
Các quốc gia thuộc Tầng này không hoàn toàn tuân theo tiêu chuẩn tối thiểu của Dự Luật Bảo Vệ Nạn Nhân của Tệ Nạn Buôn Người và họ đang có những nỗ lực đáng kể để tiến tới sự tuân theo các tiêu chuẩn đó, Nhưng:
a) Số nạn nhân bị buôn bán còn rất cao hoặc đang gia tăng; hoặc
b) Thiếu dữ kiện cho thấy tăng thêm nỗ lực chống tệ nạn buôn người trong năm vừa qua; hoặc
c) Sự quyết tâm của quốc gia đó có thêm những nỗ lực đáng kể để tuân theo tiêu chuẩn tối thiểu của Dự Luật Bảo Vệ Nạn Nhân được lượng giá qua cam kết là họ sẽ có những bước kế tiếp chống vấn nạn này trong năm tới.

Tầng 3: Các quốc gia này không tuân theo tiêu chuẩn tối thiểu và không có các nỗ lực đáng kể nào để tuân theo Dự Luật Bảo Vệ Nạn Nhân của Tệ Nạn Buôn Người.

Đài Loan (Tầng 2 Danh Sách Đặc Biệt Theo Dõi)

Phần đông, Đài Loan là nước tiếp nhận các nạn nhân đàn ông, phụ nữ, và trẻ em bị buôn bán hoặc bị cưỡng bức lao động và lạm dụng tình dục.  Phụ nữ từ Trung Quốc và các quốc gia tại Đông Nam Á thường bị buôn bán qua Đài Loan với mục đích cưỡng bức lao động và làm nô lệ tình dục.  Phụ nữ và trẻ em, phần đông đến từ Việt Nam, bị buôn bán qua Đài Loan bằng các hình thức như kết hôn giả tạo, giả mạo công ăn việc làm, và buôn người lậu để cưỡng bức lao động và làm mãi dâm.

Phần lớn các công nhân lao động từ nước ngoài, chủ yếu từ Việt Nam, Thái Lan, và Phi Luật Tân – đang được tuyển mộ hợp pháp để đến Đài Loan làm việc trong các nghề xây dựng, đánh cá, công nghiệp sản xuất hoặc làm hầu việc nhà; và họ thường bị cưỡng bức lao động hoặc bị ép buộc lao động trái với ý muốn của họ bởi các công ty môi giới hay là các ông chủ khi họ đặt chân đến Đài Loan.  Phần đông những người công nhân lao động có hợp đồng đến từ miền quê nghèo nàn và họ đã buộc phải đóng đến $8000 đô la cho các công ty môi giới nhân viên lao động hoặc những người làm môi giới độc lập để tìm việc làm tại Đài Loan.  Với số tiền lớn lao này, các công nhân lao động thường nợ công ty môi giới này hoặc người chủ; và những người chủ thường dùng món nợ này làm dụng cụ để cưỡng bức công nhân lao động trái với ý muốn của họ.  Quá trình tuyển mộ và sắp đặt chổ làm cho 350,000 nhân viên lao động từ nước ngoài ở Đài Loan (phân nửa số nhân viên này làm nghề chăm sóc cho những người già trong các nhà riêng và không được bảo vệ bởi luật pháp lao động) thiếu quy định và giám sát và đã đưa đến tình trạng ép bức nô lệ trái với ý muốn của nạn nhân.  Sự cưới hỏi và đem các cô dâu từ Việt Nam và các nước khác ở Đông Nam Á qua Đài Loan cũng không được sự kiểm soát chặc chẽ và đã làm một hình thức chuyên buôn bán các cô gái vị thành niên và phụ nữ qua Đài Loan để làm nô lệ tình dục hoặc cưỡng bức lao động.  Có một ít trường hợp buôn bán trẻ em Đài Loan ở trong nước và cưỡng bức các em làm mãi dâm cũng như một số ít phụ nữ Đài Loan bị buôn bán qua Nhật làm mãi dâm.  Nhưng đây là những trường hợp rất ít và hiếm.

Chính quyền Đài Loan không hoàn toàn tuân theo tiêu chuẩn tối thiểu để chấm dứt nạn buôn người nhưng họ đang có những nỗ lực đáng kể.  Đài Loan được xếp đặc vào Tầng 2 Danh Sách Theo Dõi là vì chính quyền Đài Loan đã không cho thấy các bằng chứng rõ ràng là họ gia tăng nỗ lực chống tệ nạn buôn người trong năm vừa qua, mặc dù họ có nhiều phương tiện để làm việc đó, đặc biệt là nhắm vào những vụ cưỡng bức lao động và nô lệ tình dục đang gia tăng ở mức trầm trọng trong số những người di dân hợp pháp từ các nước Đông Nam Á làm công nhân lao động và cô dâu.  Chính quyền Đài Loan cần phải chứng minh ý chí tìm cách giải quyết vấn nạn buôn người trên hòn đảo của họ.  Đài Loan cũng cần có chính sách rõ ràng và một đề án hành động bao trùm những vụ buôn bán con người để cưỡng bức nô lệ và tình dục trong số công nhân lao động và cô dâu.  Đài Loan cần có pháp luật chống tệ nạn buôn người để trừng phạt những kẻ phạm tội buôn người đang hoạt động mà không bị trừng phạt.

Đài Loan đang có những tiến bộ trong việc hợp tác với các tổ chức phi chính phủ để bảo vệ nạn nhân, phần đông là dân Trung Quốc.  Một số nhà chính trị trong cơ quan lập pháp đang cố gắng thông qua dự luật chống tệ nạn buôn người.  Tuy nhiên, niềm quan tâm sẽ tiếp tục về sự đối xử một số đông cô dâu Việt Nam đang ở Đài Loan hiện nay.  Các nhà chức trách Đài Loan thừa nhận quá trình đem các cô dâu từ nước ngoài vào không được kiểm soát chặc chẽ, và họ nhận thấy 47 phần trăm các cô dâu Việt Nam ở quận Đài Bắc không chung sống với người chồng Đài Loan của họ.  Đài Loan vẫn còn là nước nhận công nhân lao động từ nước ngoài.  Hệ thống giám sát việc tuyển mộ công nhân và trong lúc họ làm việc tại Đài Loan không được xem xét kỹ lưỡng.  20 ngàn trong số 350,000 công nhân lao động là những người đã chạy trốn bỏ công ăn việc làm của họ tại Đài Loan vì một số những lý do như bị ngược đãi hoặc bị cưỡng bức nô lệ trái với ý muốn của mình.  Chính quyền Đài Loan xem những người chạy trốn là những người công nhân lao động muốn ở lại Đài Loan bất hợp pháp, và xem những người này là tội phạm, giam cầm và trục xuất họ về liền sau khi bắt giữ họ.  Các tổ chức về nhân quyền lao động và chống tệ nạn buôn người xát nhận với dữ kiện tường thuật là phần đông những người lao động chạy bỏ trốn là nạn nhân của những vụ cưỡng bức nô lệ lao động và tình dục.

Truy tố
Đài Loan có một số luật lệ để có thể dùng truy tố kẻ buôn người, trong đó có luật chống nô lệ và cưỡng bức trẻ em làm mãi dâm, nhưng lại không có luật chống tệ nạn buôn người toàn diện.  Vào ngày 13 tháng Tư, 2006, Bộ Lao Động có ra công bố rằng các cơ sở thương mại hoặc cá nhân nào bị bắt vì tội mướn những nhân viên bất hợp pháp sẽ bị phạt đến $23,000.  Luật mới này sẽ bắt đầu có hiệu quả vào ngày 20 tháng 4, 2006, và sẽ nhắm vào những kẻ chuyên thuê nhân viên lậu.  Bộ Lao Động cũng công bố họ sẽ bắt đầu kiểm soát các cơ sở thương mại đang mướn phần lớn nhân viên là phụ nữ để bảo đảm họ không bị ngược đãi, và để xác minh những cơ sở kinh doanh này có cơ chế hoặc hình thức nào cho nhân viên báo cáo những vụ lạm dụng tình dục hoặc hành động ngược đãi.

Trong giai đoạn lập bản báo cáo này, đã có 94 vụ truy tố và 8 vụ kết án về tội ác buôn người làm nô lệ tình dục theo Bộ Luật Hình Sự của Đài Loan, Phần 231, 296 và 296-1.  Tuy nhiên, chỉ có một vụ truy tố về cưỡng bức nộ lệ lao động hoặc bóc lột lao động.  Mặc dù Bộ Lao Động đã nhận ra một số nạn nhân ép buộc lao động trái với ý muốn của mình, không có trường hợp nào được điều tra hoặc truy tố bở cơ quan lập pháp.  Trong trường hợp các người chủ hoặc công ty môi giới nhân viên lao động phạm tội lạm dụng và cưỡng bức lao động, họ chỉ bị cảnh cáo hoặc bị phạt nhẹ.  Chính quyền có thủ tục giám sát các công ty mướn công nhân hợp đồng nước ngoài nhưng không có một công ty nào được coi là có thể bị hành sự cho bất cứ vi phạm về luật lệ buôn người.  Cơ quan lập pháp Đài Loan đang dự thảo một đạo luật chống tệ nạn buôn người.  Họ cũng có những nỗ lực đang tiến hành để kiểm soát thủ tục di dân chặt chẽ hơn và cách thức phỏng vấn tại các trung tâm giam giữ

Che Chở
Chính quyền Đài Loan không cung cấp đủ các dịch vụ bảo vệ và che chở nạn nhân buôn người trong năm vừa qua nhưng họ có những nỗ lực để tăng thêm mức ủng hộ nạn nhân trong một vài khu vực.  Đáng kể là những nỗ lực dành ra để tìm và chăm sóc nạn nhân bị buôn làm nô lệ tình dục và điển hình là các cô gái và phụ nữ Trung Quốc bị bắt vì hành tội mãi dâm hoặc vi phạm luật di dân.  Tính đến ngày 3 tháng 4, 2006, 15 phụ nữ Trung Quốc là nạn nhân buôn người hiện đang ở tại các trung tâm giam giữ.

Sự che chở cho các nạn nhân buôn người bị cưỡng bức lao động và làm nô lệ tình dục với con số ước tính rất cao từ các nước Đông Nam Á và các “cô dâu nhập khẩu” vẫn không đồng dạng.  Chính quyền Đài Loan vẫn còn trừng phạt các nạn nhân và coi họ là tội phạm.  Chính quyền Đài Loan không cho các nạn nhân buôn người từ Trung Quốc và các nước Đông Nam Á những giải pháp hợp lý khác ngoài trục xuất họ về nước nhà mà họ sẽ gặp khó khăn hoặc bị trừng phạt khi họ trở về.  Chính quyền Đài Loan điều khiển hai trung tâm giam giữ phụ nữ Trung Quốc không có giấy tờ chính thức trước khi họ bị trục xuất về nước.  Và tại nơi đây, họ cũng giam giữ hàng trăm phụ nữ Trung Quốc được xem là nạn nhân của tệ nạn buôn người.  Không rõ lắm là các nạn nhân này có được cỗ vũ hoặc khuyến khích giúp đỡ việc truy tố những kẻ đã buôn họ.  Mức bảo vệ nạn nhân khác biệt tùy theo địa phương ở hòn đảo này.  Mặc dù chính quyền Đài Loan có tài trợ Quỹ Phát Triển Quyền Lợi Phụ Nữ, một tổ chức dùng tiền tài trợ của chính phủ và phân phát cho các NGO địa phương để giúp các nạn nhân, phần lớn là các cô dâu Việt Nam – nhưng chính phủ không có tài trợ một chỗ ẩn nào cho các nạn nhân.  Chính quyền Đài Loan đang có những cố gắng khiêm nhường để bảo đảm các cô dâu hiểu quyền lợi của mình và có một đường dây điện thoại nóng để báo cáo những vụ lạm dụng.  Thế nhưng, các nhà phê bình cho rằng đường dây điện thoại nóng này ít được dùng và các nạn nhân không biết đến.  Chính quyền cũng cố gắng tăng thêm các cuộc phỏng vấn vợ/chồng từ nước ngoài trước khi họ vào Đài Loan, nhờ vậy mà họ đã gia tăng sự phát hiện hôn nhân giả mạo (bát bỏ 30-35% các vụ hôn nhân năm 2005). 

Trái lại, sự che chở và giúp đỡ các công nhân hợp đồng từ các nước Đông Nam Á và là nạn nhân cưỡng bức nô lệ lao động trái với ý muốn của mình vẫn còn quá ít.  Chính quyền Đài Loan đã có những nỗ lực đáng kể để điều chỉnh khu vực công nhân lao động, nhưng họ đã chú tâm vào các vụ lạm dụng lao động nhỏ thay vì chú tâm vào các viện lý trầm trọng hơn về cưỡng bức nô lệ lao động.  Vào năm 2005, Bộ Lao Động đã thành lập 24 văn phòng khắp nước để cung cấp các dịch vụ hướng dẫn và các dịch vụ khác cho công nhân lao động bị lạm dụng.  Tuy nhiên, những văn phòng này không có chỗ tạm trú qua đêm cho các nạn nhân.  Những chỗ tạm trú duy nhất cho các nạn nhân cưỡng bức lao động là các nhà trú ẩn của NGO.  Vào năm 2004, Bộ Lao Động thành lập các tổ chức tư vấn pháp lý, đường dây điện thoại nóng, và một phòng tại phi trường nhằm để cung cấp tài liệu cho các công nhân lao động mới đến.  Bộ Lao Động tường trình là họ đang quản lý một chương trình sẽ cho phép các công nhân lao động bị lạm dụng được thay đổi hợp đồng làm việc ở nơi khác hoặc được phép quay về nước của mình.  Bộ Lao Động cũng đang bàn kế hoạch tăng thêm nhân viên thanh tra vụ lao động.  Các tổ chức phi chính phủ (NGO) đặt vấn đề với Bộ Lao Động là phải chăng họ sẽ thực hiện được những kế hoạch này khi phần đông các công nhân lao động vẫn chưa biết đến đường dây điện thoại nóng, các giấy tờ tài liệu, hoặc các nơi trú ẩn.

Phòng Ngừa
Những lời tuyên bố công khai của Chính quyền Đài Loan về nguy cơ vấn đề buôn người làm nô lệ tình dục cho thấy chính phủ Đài Loan coi vấn đề này thật nghiêm trọng và muốn có biện pháp giải quyết.  Thêm vào đó là sự nhận thức trong quần chúng và tường trình của các cơ quan truyền thông báo chí về vấn đề cưỡng bức lao động.  Chính quyền Đài Loan đã điều khiển các chiến dịch phòng ngừa nhắm đến các công nhân lao động theo hợp đồng từ nước ngoài, kể cả có những cuốc sách nhỏ về luật lệ Đài Loan và ra thông báo trên các radio.  Chính quyền Đài Loan có tham gia vào các chương trình rèn luyện chống tệ nạn buôn người, và họ cũng tài trợ các tổ chức quốc tế để tăng thêm các nỗ lực chống tệ nạn buôn người, và nhất là trong việc hướng dẫn các cô gái bị buôn hoặc bị lạm dụng tình dục.


Việt Nam (Tầng 2)
Việt Nam là nước cung cấp và là địa điểm nhận các đàn ông, phụ nữ, và trẻ em bị buôn bán với mục đích lạm dụng tình dục và cưỡng bức lao động.  Phụ nữ và trẻ em Việt Nam bị buôn bán làm nô lệ tình dục qua các nước Cam Bốt, Trung Quốc, Hồng Kông, Ma Cao, Mã Lai, Đài Loan, và Cộng Hòa Tiệp Khắc.  Các công ty quốc doanh xuất khẩu công nhân lao động tuyển mộ và gửi các công nhân ra nước ngoài.  Được biết những người công nhân này đã phải chịu đựng hoàn cảnh ép buộc lao động trái với ý muốn của mình hoặc bị cưỡng bức lao động.  Phụ nữ Việt Nam bị buôn qua Đài Loan với hình thức hôn nhân giả mạo để rồi bị cưỡng bức làm nô lệ tình dục hoặc lao động.  Một phần phụ nữ Việt Nam cũng bị dụ dỗ qua Singapore làm hôn nhân với đàn ông Singapore; sau khi họ đến, họ đã bị cưỡng ép hoặc bị áp lực làm nạn nhân của tệ nạn buôn người.  Việt Nam cũng là nơi đưa đến các trẻ em Cam Bốt bị buôn qua biên giới để làm ăn mày.  Thêm vào đó là số ít vụ buôn người ở trong nước từ nông thôn lên thành thị. 

Chính quyền Việt Nam không hoàn toàn tuân theo tiêu chuẩn tối thiểu để loại trừ nạn buôn người nhưng họ đang có những nỗ lực đáng kể.  Việt Nam chưa làm đủ các hiệu lực chống tệ nạn buôn người, đặc biệt là việc buôn bán phụ nữ Việt Nam làm cô dâu cho các nước ở Đông Á và các trường hợp cưỡng bức lao động của công nhân Viện Nam xuất khẩu ra nước ngoài.  Mặc dù chính quyền Việt Nam đã có những bước đi tiến bộ và đã tăng cường dịch vụ che chở công nhân Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài, thế nhưng việc giám sát các công ty xuất khẩu lao động vẫn không thích đáng.  Luật Lao Động của Việt Nam mặc dù được sửa đổi vẫn chưa thực hiện một cách hữu hiệu để đề cập các vụ liên quan đến công nhân lao động ở nước ngoài bị cưỡng bức lao động.  Ngoài ra, chính quyền Việt Nam vẫn chưa làm đủ những nỗ lực chống vấn đề phụ nữ Việt Nam bị dụ dỗ làm hôn nhân với đàn ông Đài Loan, Singapore, và Trung Quốc; phần lớn các cô dâu Việt Nam bị lạm dụng tình dục hoặc bị buôn bán.  Chính quyền Việt Nam cần chú tâm vào việc gia tăng nỗ lực điều tra nghiên cứu việc buôn bán người qua lãnh vực xuất khẩu lao động và tăng thêm các dịch vụ che chở cô dâu Việt Nam có thể là nạn nhân bị buôn bán.  Hơn nữa, Việt Nam cần có những đạo luật chống tệ nạn buôn người toàn diện để nâng cao những nỗ lực phòng chống hiện thời. 

Truy Tố
Vào năm 2005, chính quyền tiếp tục các nỗ lực lập pháp chống tệ nạn buôn người để lợi dụng tình dục nhưng không có những nỗ lực đáng kể nào để điều tra những vụ buôn người để bóc lột lao động.  Việt Nam có đạo luật cấm lạm dụng tình dục và buôn bán phụ nữ và trẻ em, với hình phạt lên đến 20 năm trong tù.  Các hình thức buôn người lao động, như cưỡng bức lao động, đã có trong Bộ Luật Hình Sự.  Mặc dù chính quyền Việt Nam có quá trình giám sát các công ty xuất khẩu lao động, nhưng lại không có những cuộc điều tra hoặc truy tố vụ cưỡng bức lao động.  Bộ Lao Động có văn phòng bảo vệ quyền lợi công nhân và giải quyết những tranh chấp nơi sở làm tại 9 nước đứng đầu về tiếp nhận công nhân lao động Việt Nam, nhưng họ ít khi điều tra những lời khiếu nại của nhân viên bị lạm dụng hoặc bị ép buộc lao động trái với ý muốn của mình.  Trong năm vừa qua, theo văn phòng thống kê tội ác, có 182 vụ truy tố và 161 vụ kết án liên quan đến tệ nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em.  Mặc dù có những nhân viên chính quyền địa phương làm giàu về tệ nạn buôn người, không một nhân viên chính quyền nào bị truy tố về tội đồng lõa với những kẻ buôn người.

Che Chở
Chính quyền Việt Nam đã gia tăng các dịch vụ bảo vệ nạn nhân vào năm 2005.  Chính quyền đã phân phối quỹ tài trợ cho một chương trình để trợ giúp ban đầu cho phụ nữ và trẻ em là nạn nhân của tệ nạn buôn người khi họ trở về nước.  Chính quyền địa phương cộng tác với các tổ chức NGO để giúp đở nạn nhân hồi hương qua các hình thức dạy nghề, trồng trọt, hoặc cho vay một vốn nhỏ để họ tự kiếm sống.  Nạn nhân cũng được khuyến khích giúp đỡ trong việc điều tra và truy tố các đường dây buôn người.  Chính quyền Việt Nam thường gửi các phụ nữ làm mãi dâm ở trong nước vào các trại “cải tạo” để họ được chữa bệnh, dạy nghề, và hướng dẫn để không trở lại làm nghề mãi dâm.  Thế nhưng các nỗ lực phục hồi nạn nhân thiếu tiềm lực tài chánh và chỉ có ở cấp tỉnh và địa phương thôi.  Ngoài ra, chính quyền không có thủ tục chính thức nào để bảo vệ nạn nhân bị ép bức làm nô lệ trái với ý muốn của họ hoặc bị cưỡng bức lao động trong thời gian lập bản báo cáo này. 

Phòng Ngừa
Chính quyền Việt Nam không có thi hành chiến dịch gây nhận thức trong công chúng để chống tệ nạn buôn người trong năm 2005.  Tuy nhiên họ vẫn tiếp tục nêu lên vấn đề buôn bán con người trong các tài liệu giáo dục khác.  Chương trình chống tệ nạn mãi dâm của chính phủ từ năm 2001 có tài liệu về buôn bán con người và các chương trình giáo dục.  Chương trình hành động quốc gia của chính quyền Việt Nam giao nhiệm vụ giáo dục cộng đồng về việc phòng chống tệ nạn buôn người cho Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam.

Translated by VietACT from the 2006 Trafficking In Persons Report by the State Department


VietACT Logo Home | About Us | Contact | RSS | Sitemap
VietACT, PO Box 218, Westminster, CA 92684
© 2006 VietACT. All Rights Reserved.